Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Ấn Độ giúp Việt Nam nâng cấp MiG-21

Trong thời gian vừa qua Ấn Độ đã giúp nâng cấp hơn 100 MiG-21 của Việt Nam lên chuẩn MiG-21 Bison của Ấn Độ.

Mig-21 Bison là gói nâng cấp hiện đại nhất của Mig-21, và có lẽ đây cũng là gói nâng cấp cuối cùng của loại máy bay huyền thoại này.

Gói nâng cấp mới bao gồm, trang bị radar xung Doppler, nâng cấp hệ thống điện tử. Trang bị cảm biến cảnh báo tên lửa từ Pháp, cảm biến cảnh báo radar (RWR)  được phát triển bởi  DRDO của Ấn Độ. Hệ thống điều hòa không khí mới, thanh điều khiển HOTAS,  máy tính thế hệ mới, radio tầm ngắn thế hệ mới hoạt động ở băng tần VF, VHF, UHF.  Hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng tia hồng ngoại từ Nga, buồng lái được trang bị hai màn hình LCD Sextan MFD-55.  Kính chắn gió một mảnh bằng vật liệu tổng hợp. Màn hình hiển thị HUD.

Gói nâng cấp mới cung cấp khả năng không chiến ngoài tầm nhìn với tên lửa RW-AE R-77. Các thử nghiệm tại Ấn Độ cho thấy gói nâng cấp MiG-21 Bison đạt khả năng không chiến ngang ngửa thậm chí là vượt trội so với F-16 đời đầu.

Ngoài ra Ấn Độ đã chuyển giao cho Hải quân Nhân dân Việt Nam nhiều phụ tùng và thiết bị quan trọng để nâng cấp các tàu chiến từ thời Liên Xô. Đặc biệt là chương trình hoán cải các tàu Petya để có thể trang bị tên lửa chống hạm.

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ được xây đắp từ những năm 1950,  quan hệ quốc phòng được bắt đầu từ những năm 1990. Năm 2009 hai bên đã ký bản ghi về việc nâng quan hệ hai bên lên tầm đối tác chiến lược. Ấn Độ và Việt Nam đã quyết định xích lại gần nhau hơn trong bối cảnh thế giới phức tạp.

Trong hơn một thập kỷ qua, với khả năng của mình Ấn Độ đã giúp Việt Nam cũng cố, hiện đại hóa không quân và hải quân. Cũng cố quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam là một phần trong chiến lược dài hạn “Hướng về phía Đông”.

'Ngựa chiến' già nua MiG-21 và chương trình hiện đại hóa

Tuy lỗi thời so với các chiến đấu cơ thế hệ mới, MiG-21 vẫn đóng vai trò là tiêm kích chủ lực trong không quân nhiều quốc gia. Để đáp ứng các yêu cầu mới, một số nước đã đưa ra các chương trình hiện đại hóa, nâng cấp MiG-21.

Sau đây là một số chương trình nâng cấp - hiện đại hóa điển hình:

Chương trình MiG-21Lancer (Không quân Romania)

MiG-21 Lancer là kết quả của chương trình hợp tác giữa Elbit system (Israel) và Aerostar SA (Romania) nhằm hiện đại hóa hơn 100 tiêm kích MiG-21M/MF/bis cho Không quân Romania.

MiG-21 Lancer của không quân Romania

Lancer được trang bị nhiều thiết bị điện tử mới, như hệ thống định vị tiên tiến hỗ trợ hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết và cải thiện khả năng tác chiến ban đêm của MiG-21 như VOR/ILS, INS và ADF. Bên trong buồng lái được cải tiến nhiều, mang lại sự tiện nghi, thoải mái cho phi công. Về mức độ an toàn bay cũng nâng cao hơn.

Buồng lái của phiên bản MiG-21 Lancer A.
Buồng lái của MiG-21 Lancer C.

Hệ thống vũ khí ngoài pháo GSh-23 23mm, Lancer mang được tên lửa không đối không tầm ngắn R-60, R-73. Đặc biệt hơn, chúng đã cải tiến lắp đặt cả những vũ khí của phương tây như Python 3 và Magic 2.

Ngoài ra, MiG-21 Lancer cũng cải thiện khả năng trang bị vũ khí chính xác cao, vũ khí dẫn đường bằng laser. Bên cạnh đó là những loại bom, rocket không điều khiển.

Chương trình MiG-21 Lancer của Romania chia thành ba phiên bản:

-MiG-21 Lancer A là phiên bản nâng cấp với nhiệm vụ tấn công mặt đất trang bị vũ khí có điều khiển.
-MiG-21 Lancer B là phiên bản huấn luyện chiến đấu của Lancer với hai chỗ ngồi.
-MiG-21 Lancer C là phiên bản chiến đấu chiếm ưu thế trên không, lắp đặt radar điều khiển hỏa lực EL/M-2032, thiết bị hiển thị mục tiêu trên mũ phi công, phía trong buồng lái có hai màn hình tinh thể lỏng đa năng hiển thị thông số kỹ thuật bay.

Phiên bản tấn công mặt đất MiG-21 Lancer A.
Phiên bản huấn luyện chiến đấu MiG-21 Lancer B.
Phiên bản chiến đấu chiếm ưu thế trên không MiG-21 Lancer C.

Hiện nay, Romania có kế hoạch sẽ thay thế MiG-21 Lancer vào năm 2010-2011 bằng các chiến đấu cơ thế hệ mới gồm Eurofighter Typhoon, F-16 và JAS-39 Gripen. Dự trù kinh phí cho kế hoạch lên tới 6,2 tỉ USD bao gồm cả công tác huấn luyện và các hỗ trợ khác.

Chương trình MiG-21-2000 (Israel)

MiG-21-2000 là chương trình nâng cấp tiêm kích đánh chặn tầm gần MiG-21 do Israel thực hiện. Chương trình MiG-21-2000 tập trung vào nâng cấp thiết bị điện tử hàng không, cải tiến buồng lái và hệ thống vũ khí.

Máy bay tiêm kích và tấn công mặt đất MiG-21-2000.

Buồng lái của MiG-21 nguyên bản được đánh giá là thiếu các thiết bị điện tử hàng đại cần có trên một chiến đấu cơ thế hệ mới, đồng thời không gian chật chội không thoải mái. Do vậy, MG-21-2000 tập trung nhiều vào nâng cấp buồng lái bao gồm: lắp màn hình hiển thị trước mặt (HUD), màn hình màu đa năng nằm ngang tầm mắt, thiết bị điều khiển HOTAS và cặp thiết bị bán dẫn camera (CCD).

Buồng lái nâng cấp của MiG-21-2000.

Ngoài ra, đối với phi công,họ trang bị hệ thống hiển thị và ngắm bắn trên mũ (DASH) cho phép nhận biết, phát hiện sớm kẻ địch, điều khiển ngắm bắn mục tiêu một cách dễ dàng.

Hệ thống dẫn đường trên máy bay cải tiến với hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống định vị quán tính (INS), máy tính truyền dẫn dữ liệu trên không đảm bảo tăng khả năng dẫn đường và bắn vũ khí đạt độ chính xác cao.

MiG-21-2000 cũng được trang bị radar điều khiển hỏa lực EL/M-2032 có tầm hoạt động 46 km, theo dõi đồng thời 8 mục tiêu cùng lúc và tiêu diệt một trong số đó.

Gói nâng cấp MiG-21-2000 cho phép máy bay có khả năng không chiến ngoài tầm nhìn. Chúng mang bốn tên lửa trên bốn giá treo gồm: tên lửa không đối không AA-2 Atoll, tên lửa chống radar AA-2C, tên lửa không đối không tầm trung Python 3 và bom dẫn đường laser MBT Griffin.

Theo một số nguồn tin, srael đang hợp tác nâng cấp MiG-21 của Campuchia và Zambian lên tiêu chuẩn MiG-21-2000.

Chương trình MiG-21-93 (Nga)

MiG-21-93 là chương trình nâng cấp được thực hiện dựa trên sự phối kết hợp của nhiều công ty chế tạo vũ khí của Nga gồm: tập đoàn Rosvoorouzhenie state, nhà máy chế tạo máy bay Sokol, công ty Phazontron-NIIR, MAPO-MiG và GosNIIAS.

MiG-21-93 được phát triển trở thành tiêm kích đánh chặn đa nhiệm vụ, trang bị các hệ thống thiết bị điện tử hàng không tiên tiến, mang vũ khí có điều khiển, vũ khí có độ chính xác cao. Đáp ứng các nhiệm vụ không chiến, tấn công mặt đất.

Máy bay tiêm kích - đánh chặn đa nhiệm MiG-21-93 của không quân Ấn Độ.

Thực sự, chương trình MiG-21-93 có sự khác biệt rõ rệt so với MiG-21 Lancer và MiG-21-2000. Trong khi Israel và Romania chú ý đến cải tiến nhiều về trang bị buồng lái phi công, đem lại sự tiện nghi thoải mái, trong khi hệ thống vũ khí vẫn chưa có quá nhiều sự khác biệt. Người Nga lại tập trung chăm chút nhiều hơn cho hệ thống hỏa lực của máy bay và chỉ cải tiến nhỏ trong buồng lái.

Trong buồng lái của MiG-21-93, người Nga trang bị thêm màn hình hiển thị trước mặt (HUD), thiết bị hiển thị mục tiêu trên mũ phi công, hệ thống định vị quán tính (INS), máy tính truyền dẫn dữ liệu trên không, hệ thống định vị vô tuyến tầm ngắn.

Buồng lái đã được nâng cấp của MiG-21-93

Tiêm kích đánh chặn đa nhiệm MiG-21-93 lắp đặt radar điều khiển hỏa lực Kopyo có những tính năng vượt trội so với EL/M-2032. Ví dụ, tầm hoạt động của Kopyo là 56km cao hơn so với EL/M-2032, Kopyo dò tìm và theo dõi 10 mục tiêu đồng thời tiêu diệt hai trong số đó.

Hệ thống vũ khí của MiG-21-93 có những cải tiến nâng cao hiệu quả chiến đấu rõ rệt. MiG-21-93 mang tên lửa không đối không tầm ngắn R-60, R-73; tên lửa không đối không tầm trung R-27R1/T1, RVV-AE; tên lửa chống radar Kh-25MP; bom có điều khiển dẫn đường bằng TV KAB-500KR.

Tiêm kích đánh chặn đa nhiệm MiG-21-93 mang nhiều vũ khí hiện đại, có độ chính xác cao.

Ngoài ra, MiG-21-93 vẫn mang vũ khí không điều khiển như rocket S-5, S-8, S-13, S-24 và bom 250-500kg. Đánh giá sau khi nâng cấp, khả năng không chiến tầm xa của MiG-21-93 tăng gấp 10 lần và tính năng tổng hợp tăng gấp 3 lần.

Năm 1995, Không quân Ấn Độ đã ký hợp đồng nâng cấp hơn 120 chiếc MiG-21bis lên tiêu chuẩn MiG-21-93. Dự kiến, MiG-21 của Ấn Độ sẽ kéo dài sứ mệnh của mình đến tận năm 2015. 

Tìm hiểu ứng cử viên thay thế MiG - 21 của Ấn Độ

 
Ấn Độ vừa tuyên bố, sẽ loại bỏ các máy bay tiêm kích MiG – 21 ra khỏi biên chế. Nếu không có loại máy bay khác thay thế, không quân nước này chắc chắn có một khoảng trống lớn trong trang bị.

MiG – 21 phục vụ trong không quân Ấn Độ từ những năm 1960. Đến những năm 1990, loại máy bay này gắn liền với nhiều sự cố, khiến nhiều phi công tử nạn.

Năm 1996, Ấn Độ hợp tác với phía Nga tiến hành nâng cấp hiện đại hóa khoảng 120 chiếc MiG – 21 theo tiêu chuẩn Bison. Các máy bay tiêm kích nâng cấp MiG – 21 Bison trang bị ra đa cảnh báo Phazotron Kopyo (theo dõi 8 mục tiêu cùng lúc và khóa – tiêu diệt đồng thời hai mục tiêu trong số đó), máy bay cũng vũ trang các loại tên lửa không đối không hiện đại hơn như R – 27 hay R – 77.

Ấn Độ dự kiến MiG – 21 Bison hoạt động tới năm 2017.
Không chỉ phục vụ tại Ấn Độ, MiG-21 nằm trong biên chế rất nhiều quốc gia khác trên thế giới và nó cũng là tác giả của không ít vụ tai nạn.
Tiêm kích cơ đã được nâng cấp hiện đại hóa MiG-21 Bison.
Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn (khoảng ba năm trở lại đây) có tới 21 vụ rơi máy bay MiG – 21. Với tỉ lệ rủi ro cao như vậy, chính phủ Ấn Độ không thể ngồi yên. Số phận của loại máy bay "huyền thoại" một thời này đã được định đoạt vào ngày 19/4 khi bộ trưởng quốc phòng ATK Antony tuyên bố sẽ loại bỏ các phi đội MiG – 21.

Vì vậy, vấn đề loại máy bay nào sẽ thay thế vai trò của MiG – 21 được đặt ra. Hiện, Ấn Độ sở hữu khá nhiều máy bay chiến đấu đa năng Su – 30 hay MiG – 29. Nhưng số lượng chưa đủ. Một trong những lựa chọn khả thi nhất cho Ấn Độ là sản phẩm nội địa Tejas.
Máy bay chiến đấu hạng nhẹ đa năng Tejas.
Ra đời sau, thừa hưởng nhiều thành tựu khoa học công nghệ quốc phòng hiện đại, so sánh với MiG – 21 thì Tejas là máy bay chiến đấu cơ đa năng hạng nhẹ một động cơ, hoàn toàn vượt trội về mọi mặt.

Hình dạng Tejas được thiết kế với kiểu cánh tam giác, phần đuôi không có cánh thăng bằng đuôi và không được hỗ trợ cánh mũi. Trọng lượng máy bay rất nhẹ với các loại vật liệu tổng hợp.

Hệ thống điện tử trên máy bay hiện đại bao gồm: các màn hình tinh thể lỏng đa năng (trong buồng lái); màn hình hiển thị trước mặt phi công (HUD); hệ thống bay tự động hiện đại fly – by – wire; bộ thiết bị định vị là sự kết hợp của hệ thống định vị toàn cầu và hệ thống định vị quán tính con quay hồi chuyển laze vòng Sagem SIGMA 95N.

Đối với phi công ngoài ghế phóng khẩn cấp, họ được trang bị thiết bị hiển thị thông tin trên mũ. Bên trong buồng lái bố trí hệ thống điều hòa môi trường.
Buồng lái của Tejas trang bị rất nhiều thiết bị điện tử hàng không tiên tiến.
Máy bay được chế tạo với 8 giá treo mang vũ khí, Tejas vũ trang các loại tên lửa không đối không, không đối đất, không đối hạm, bom chính xác cao và rocket của Nga.

Ngoài ra, trong máy bay bố trí pháo hai nòng cỡ 23 mm dùng cho không chiến tầm cực gần.
Tejas trang bị hầu hết vũ khí của Nga. Trong một cuộc thử nghiệm cuối năm 2007, Tejas đã bắn thử thành công tên lửa không đối không Vympel R-73.
Về động cơ của Tejas, nguyên mẫu được trang bị động cơ phản lực cánh quạt đẩy General Electric F404 – GE – F2J3. Nhưng khi đưa vào sản xuất thì Tejas được đề nghị sử dụng động cơ F404 – GE – IN20. (Năm 2007, Ấn Độ đã mua 24 động cơ loại này).

Tejas đạt vận tốc siêu âm 2.376 km/h, trần bay 16.500 m và tầm bay rất lớn lên tới 3.000 km (trong khi MiG – 21khoảng 1.200 km).

Dự kiến Tejas bắt đầu phục vụ vào năm 2011. Ấn Độ cần khoảng 140 chiếc Tejas trang bị cho 7 phi đội không quân. Mỗi chiếc Tejas có giá khá "mềm" 21 triệu USD.

Nguồn: baodatviet.vn

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010

Một số vũ khí đẹp xuất hiện trong hợp luyện diễu binh

Bên cạnh súng M-18 gây xôn xao dư luận, trong buổi diễu binh, diễu hành mừng Đại lễ vẫn còn nhiều vũ khí truyền thống khác của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

AK-47, vũ khí cá nhân truyền thống và phổ biến trong các lực lượng vũ trang.
Ra đời từ năm 1947, AK nhanh chóng trở thành loại vũ khí được sản xuất nhiều nhất trên thế giới.
Gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập của nhiều quốc gia trên thế giới, AK trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đến nay, AK vẫn là loại vũ khí cá nhân có uy lực sát thương lớn, thể hiện độ tin cậy cao trong nhiều tình huống tác chiến và điều kiện chiến đấu khắc nghiệt.
Bên cạnh AK, CKC là loại súng trường phổ biến trong các các đơn vị dân quân tự vệ, thuộc lực lượng vũ trang nhân dân. Trong kháng chiến, loại vũ khí này cũng thể hiện uy lực lớn gây nhiều thiệt hại cho kẻ thù.
Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước, CKC thường xuất hiện trong các sự kiện nghi lễ của Nhà nước.
M-18, mẫu súng gây xôn xao dư luận từ khi xuất hiện trong hợp luyện diễu binh cuối tháng 9.
Xuất hiện trong khối chiến sĩ đặc công và cảnh sát biển, từ lần xuất hiện thứ 2, mẫu súng này được gắn thêm ống giảm thanh, tạo độ dài cần thiết đảm bảo thẩm mỹ trong diễu binh.
Sự xuất hiện của M-18 đánh dấu sự đổi mới trong việc trang bị vũ khí, hiện đại hóa quân đội.
Giống với M-18, lần đầu tiên kiếm lệnh xuất hiện trong diễu binh, diễu hành.
Được sĩ quan dẫn đần khối danh dự sử dụng, kiếm lệnh tạo vẻ trang nghiêm, oai dũng cho đoàn quân.
Xuất hiện đầy bất ngờ trong phút chót của cuộc diễu binh, diễu hành, súng của Đức được biểu dương trên tay các chiến sĩ thuộc khối cảnh sát cơ động, thể hiện sự phong phú trong trang bị quân khí của các lực lượng vũ trang.

Tiểu liên MP-5 - niềm tự hào của người Đức

Nói đến dòng súng tiểu liên SMG (Sub-Machine Gun), không ai không biết đến loại súng HK MP-5, vũ khí rất nổi tiếng có mặt trong trang bị của hầu hết các lực lượng đặc nhiệm trên thế giới, và là niềm tự hào của người Đức

Khẩu tiểu liên Heckler und Koch, MP5, là một trong những khẩu súng nổi tiếng nhất thế giới và có nhiều biến thể, được phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Nó được phát triển vào tầm những năm 1964 dưới mật danh HK MP-54, hay đơn giản chỉ là HK-54.

Vào năm 1966, cảnh sát và biên phòng Đức đã chấp nhận khẩu HK-54 với tên gọi MP-5, và nó có 2 phiên bản: Một phiên bản báng đóng chết vào súng và một phiên bản báng có thể rút vào được. Vài năm sau HK đã có một chút nâng cấp bộ phận thước ngắm và nòng súng. Những thay đổi khác nằm ở hộp tiếp đạn (hộp cong thay vì thẳng).

HK MP-54, mẫu phát triển đầu tiên năm 1965
 
 HK MP-5A2 với báng đóng và tổ hợp nút gật 3 chế độ bắn S-E-F

Qua nhiều năm MP-5 đã được sử dụng ở rất nhiều cơ quan cảnh sát, an ninh và quân đội của nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cảnh sát và biên phòng Đức, cảnh sát Anh và lực lượng SAS, cảnh sát Mĩ, FBI, hải quân và lính thủy đánh bộ và nhiều, nhiều nơi khác nữa. MP-5 đuợc sản xuất tại Đức và tại nhiều nước với license của HK như Hy Lạp, Iran, Pakistan và Mexico.

Đối thủ duy nhất của MP-5 trong thị trường vũ khí trên toàn thế giới chính là khẩu UZI nổi tiếng của Israel. Điều thú vị là quân đội Đức không chấp nhận MP-5mà dùng UZI, được cấp phép sản xuất tại Bỉ. Nguyên nhân có thể do giá thành.

Sự thành công của MP-5 có thể nói là ngoài mong đợi của nhà sản xuất. Những yếu tố của thành công đó là chất lượng cao và độ tin cậy của súng, khả năng bắn phát một chính xác đến khâm phục, rất linh hoạt. Có thể nói rằng hiện tại không có một khẩu SMG nào có thể chạy đua được với MP-5 trên thị trường vũ khí (Uzi đã ngừng sản xuất).

HK MP-5A3 với báng rút vào được


MP-5, về cơ bản giống với khẩu súng trường tấn công HK G-3. Súng có ba chế độ bắn, bao gồm 2 (an toàn, bán tự động), 3 (an toàn, bán tự động, tự động), 4 (an toàn, bán tự động, tự động, bắn loạt 2 hay 3 viên). Thước ngắm súng giống với đã phần thước ngắm của súng HK, có thể thay bằng ống ngắm quang học, kính nhìn đêm hay kính red-dot. Hộp đạn tiêu chuẩn 30 viên, nhưng có thể thay bằng hộp 15 viên khi cần. Phiên bản đặc biệt được sản xuất giới hạn cho Mỹ với cỡ đạn 10mm (10x25mm) và 40S&W (10x22mm).

Trong khi tất cả các khẩu MP-5 đều có thể tích hợp ống giảm thanh, thì đã có hẳn một phiên bản giảm thanh hoàn toàn của họ MP-5, đó là MP-5SD3 hay SD2 (phụ thuộc vào loại báng cố định hay rút vào). Phiên bản này có ống giảm thanh gắn hoàn toàn vào súng, có nòng để giảm vận tốc viêc đạn xuống dưới vận tốc âm thanh (330m/s). MP-5SD có thể bắn bất kì loại đạn 9mm, ko nhất thiết phải là đạn cận âm.

HK MP-5SD3, phiên bản súng giảm thanh và báng rút
 
 HK MP-5N, mẫu dành cho hải quân Mĩ, thiết kế dành cho người thuận tay trái hay tay phải, chế độ bắn được minh họa dạng biểu tượng,v.v....
 HK MP-5 được sử dụng trong rất nhiều lực lượng đặc nhiệm trên thế giới

Phiên bản bán tự động của MP-5 dành cho dân sự được sản xuất với tên gọi HK-94 có nòng dài hơn, 16inch (406mm), để phù hợp với luật pháp Mỹ. Cũng có 1 công ty Mỹ, tên là Special Weapons LLC, sản xuất các phiên bản dân sự của MP5 dùng đạn súng ngắn, gồm cả loại .45ACP. 

 
Về loại súng ‘lạ’ xuất hiện trong lễ diễu binh 10/10

Sự xuất hiện của khẩu súng kiểu Mỹ trong lễ diễu binh, diễu hành sáng 10/10 khiến dư luận không khỏi thắc mắc về nguồn gốc và tính năng của nó.


Được giới thiệu lần đầu trong dịp Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng thị sát hoạt động hợp luyện diễu binh, loại súng trên được gọi tên M-18.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên sau kháng chiến, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã biểu dương sức mạnh cùng với một loại vũ khí có nguồn gốc Mỹ, bên cạnh các loại vũ khí cá nhân quen thuộc như AK và CKC.

Từ khi mới xuất hiện, hình ảnh M-18 trên tay các chiến sĩ đặc công và cảnh sát biển trong các buổi tập luyện đã trở thành chủ đề nóng trên các diễn đàn, thu hút nhiều bình luận sôi nổi. Nhiều câu hỏi được đặt ra, quanh loại vũ khí “lạ” này như: M-18 là loại súng gì, tính năng chiến đấu ra sao(?)…
M-18 được giới thiệu trên các phương tiện truyền thông lần đầu tiên vào dịp Đại tướng Phùng Quang Thanh thị sát hợp luyện diễu binh. Theo một quan chức thuộc ban Tổ chức hợp luyện, M-18 được Việt Nam nhập khẩu từ nước ngoài. Ảnh: Tuấn Linh
Dựa vào đặc điểm: nòng ngắn, báng có thể thay đổi độ dài và một số đặc điểm khác, M-18 được nhiều người nhận định có nét giống với với XM177E2, (có tên gọi ban đầu là Colt 629 Comando), thuộc họ CAR-15.

Sơ lược về sự phát triển của CAR-15/M-16

Trong khi loại súng rất phổ biến trong quân đội Mỹ và đồng minh là M-16 và hầu hết “các anh em” của nó được biết đến như là loại súng trường tấn công tự động, thì các súng thuộc họ CAR-15 được xếp vào dòng carbine. Sự khác biệt của hai loại súng này chủ yếu ở chiều dài của nòng súng (*).

Tuy được phân biệt tương đối rõ ràng về cách phân loại, nhưng M-16 và CAR-15 lại có “quan hệ huyết thống” chặt chẽ trong lịch sử phát triển.
Phần thân của một khẩu XM177E2 của hãng vũ khí Colt, Mỹ.
Ảnh chụp phần thân của M-18 trong buổi hợp luyện diễu binh. Ảnh: Tuấn Linh
Vào những năm 1950-1960, bối cảnh chiến tranh lạnh và thực tế ở chiến trường Việt Nam thúc đẩy các nhà sản xuất vũ khí Mỹ liên tục nhận được yêu cầu để cải tiến, nâng các mẫu súng. Đầu tiên, các đơn vị tìm – diệt, thường xuyên đối phó với các nhóm du kích nhỏ, di chuyển, tác chiến trong những khu rừng rập rạm ở Việt Nam cần những khẩu súng ngắn, gọn, trọng lượng nhẹ, có tốc độ bắn nhanh hơn là khả năng bắn xa và chính xác. Đây cũng là yêu cầu của các phi công trực thăng, muốn có vũ khí thích hợp với sự chật chội của buồng lái.

Vì vậy, nhà sản xuất giảm chiều dài báng và nòng súng, thậm chí giảm một nửa (từ 20 inch xuống còn 10 inch). Ngoài ra, họ còn thay thế một vật liệu làm báng, tay cầm và ốp nòng bằng loại nhẹ hơn trên các súng thuộc họ M-16 để cho ra XM177E1 (phiên bản đầu tiên của họ CAR-15).

Tuy nhiên, sự cắt giảm này gây ra nhiều phiền toái như súng nổ quá to, làm giảm thính lực của người lính; nòng súng ngắn lại sử dụng loại đạn cũ (nhiều thuốc phóng) gây nên chớp lửa đầu nòng lớn, làm nòng súng bị cáu bẩn, đồng thời, gây chói mắt và làm lộ vị trí của người cầm súng. Do đó, nhà sản xuất đã thực hiện một số thay đổi như kéo dài nòng từ 10 inch lên 11,5 inch, thay đổi lượng thuốc phóng của đạn… để cho ra bản XM177E2.
Một khẩu XM177E2 là sản phẩm của tư duy mới về súng bộ binh ở Việt Nam, ứng dụng nhiều công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ vật liệu.
Không chỉ vậy, XM177E2 còn có một số ưu điểm khác như: nhiều chi tiết và phía trong súng được mạ để chống ăn mòn (phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam); có thể gắn thêm ống phóng lựu XM148, thay cần lên đạn kiểu Delrin giúp giảm kích thước phần trên của súng, đồng thời chống hiện tượng nhả chốt khi bắn ở các đời súng trước…

Thế nhưng, dù được cải tiến nhiều nhưng bản thử nghiệm XM177E2 không qua được các bài kiểm tra khắt khe của Quân đội Mỹ. Vì vậy, loại súng này chỉ được sản xuất và thử nghiệm trong giai đoạn 1966-1970. Những ưu điểm của XM177E2 sau này được nhà sản xuất áp dụng vào mẫu M16A1 và một số biến thể của dòng này.

Tại sao lại là M-18?

Với quan sát ngoại hình ban đầu và vốn tư liệu ít ỏi trong tay, người viết bài chưa dám khẳng định nguồn gốc đích xác của M-18. Tuy nhiên, là với những thông tin hiện có, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định, M-18 có thiết kế thuộc họ CAR-15/M-16.

Như vậy, có thể nói M-18 là loại súng hoạt động trên nguyên lý trích khí, khóa nòng chốt xoay, bắn đạn cỡ 5,56mm, trọng lượng khoảng 2,5kg (khi chưa lắp thêm các khí tài và phụ kiện); tốc độ bắn lý thuyết khoảng 750 phát/phút. Vậy, với những thông số này, M-18 sẽ có vị trí thế nào trong các loại vũ khí cá nhân của Quân đội Nhân dân Việt Nam?

Trước hết, với kích thước nhỏ gọn, M-18 hết sức thuận tiện trong các tình huống tác chiến trong không gian hẹp hoặc trong những nhiệm vụ đòi hỏi người lính phải linh hoạt, đảm bảo bí mật khi tiếp cận mục tiêu.

Đặc biệt, ứng dụng công nghệ vật liệu mới (sử dụng nhiều hợp kim nhẹ, nhiều bộ phận làm từ nhựa tổng hợp), lại sử dụng cỡ đạn nhỏ (nhỏ hơn cỡ đạn 7,62mm của AK), nên M-18 không tiêu tốn năng lượng của người lính khi di chuyển.
M-18 có nhiều đặc điểm phù hợp với một số nhiệm vụ chuyên biệt của các lực lượng đặc biệt.

Việc giảm nhỏ cỡ đạn cho phép giảm trọng lượng của súng và đạn một cách rõ rệt. Các chuyên gia đã tính toán, nếu cỡ nòng giảm 1mm sẽ giảm được 10-15% trọng lượng súng. Thêm vào đó, giảm cỡ đạn vừa giảm được trọng lượng, thể tích lại tăng cơ số đạn dự trữ của người lính khi chiến đấu. Cùng một trọng lượng như nhau, nhưng số đạn cỡ 5,56mm sẽ lớn gấp 2 số đạn cỡ 7,62mm.

Như vậy, có thể thấy, M-18 thể hiện nhiều ưu điểm hơn so với vũ khí truyền thông là AK, và sẽ phù hợp với nhiều nhiệm vụ chuyên biệt. Tuy nhiên, nhìn vào quá khứ, chúng ta thấy rằng, đối phương dù được trang bị các loại súng hiện đại hơn nhưng đã không thắng được người lính Bộ đội Cụ Hồ. Điều đó cho thấy, vũ khí là quan trọng nhưng cách đánh, cách khai thác sức mạnh của vũ khí, yếu tố con người mới là vai trò quyết định. Bởi vì, “vũ khí chỉ là sắt, người lính mới là thép”. Với loại vũ khí hiện đại, các lực lượng đặc biệt như đặc công, cảnh sát biển, chống khủng bố sẽ như “hổ thêm cánh”, lập nên những chiến công tiếp nối truyền thống hào hùng của lịch sử.

Dưới đây là một số loại súng thuộc họ CAR-15/M-16 và các biến thể khác:
(*) CAR-15 được xếp vào loại súng carbine, là thuật ngữ quân sự có nguồn gốc chỉ loại súng dùng cho kỵ binh, lực lượng đòi hỏi vũ khí thuận lợi cho việc xạ kích trên mình ngựa. Tuy kỵ binh lùi vào lịch sử, nhưng yêu cầu tác chiến với súng carbine vẫn cần thiết với một số lực lượng đặc biệt.
Trong khi, súng trường tấn công tự động đòi hỏi nòng dài để tăng độ chính xác của đường đạn thì carbine lại đặt yếu tố nhỏ gọn, thuận tiện lên hàng đầu.
Dòng súng CAR-15/M-16 sử dụng đạn cỡ 5,56mm. Việc giảm nhỏ cỡ đạn có thể làm giảm khả năng sát thương và xác suất trúng đích ở cự ly xa. Theo thống kê của quân đội Mỹ, với cỡ đạn 5,56mm bắn ở cự ly ngoài 270m, độ tản mác tăng lên khá nhiều.
Các súng thuộc dòng M-16 và biến thể sau này của nó được Trung Quốc "nhái" và sử dụng hạn chế trong các lực lượng vũ trang.
Một khẩu M-4 (thế hệ sau M-16) do hãng Norico, Trung Quốc sản xuất (có dòng chữ Made in China).
Một khẩu M-4 do Norico sản xuất có đường ray ở phần trên thân súng để lắp thêm các khí tài khác. Đặc điểm này cho thấy M-18 khác hoàn toàn với M-4 của Trung Quốc.

Chùm ảnh về súng M-18

Súng M-18 là một trong những khẩu súng kiểu Mỹ được biên chế trong Quân đội Nhân dân Việt Nam. Do thu được rất nhiều sau kháng chiến chống Mỹ, những khẩu súng kiểu này thường được trang bị cho lực lượng dân quân tự vệ ở miền Nam.
Hình dáng bên ngoài của M-18 có nhiều đặc điểm giống với XM177E2, một mẫu súng thử nghiệm ở Việt Nam trong giai đoạn 1966-1970. Có thể nói XM177E2 và các mẫu súng sau thừa hưởng những ưu điểm trong thiết kế của nó được chế tạo cho chiến trường Việt Nam.
M-18 có 2 chế độ bắn tự động liên thanh và điểm xạ.
Cận cảnh thân súng M-18.
Phần dưới của M-18 với cơ cấu cò, băng đạn 20 viên và báng làm bằng nhựa, có thể thay đổi chiều dài phù hợp với chiều dài cánh tay của xạ thủ.
Phía trong súng M-18 có thể được mạ nhằm giúp súng chống ăn mòn trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.
Khe hất đạn của M-18. M-18 hoạt động theo nguyên lý trích khí khóa nòng chốt xoay, một phần năng lượng của thuốc súng khi cháy được trích để lên đạn cho cơ cấu tự động của súng. Đồng thời, một chốt xoay sẽ được truyền chuyển động hất vỏ đạn cũ qua khe và đưa viên đạn mới vào nòng.
M-18 có thể sử dụng nhiều loại băng đạn 20 viên, 30 viên, thậm chí băng đạn hình trống kép Beta-C có số đạn lên tới 100 viên.
Phần trên của M-18 với cần lên đạn kiểu Derlin.
Gắn ống giảm thanh, không chỉ giúp triệt tiêu tiếng nổ khi điểm hỏa mà còn giảm chớp lửa đầu nòng, giúp đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ khi thực hiện nhiệm vụ.
 
M-18 gây nhiều tò mò với cả các khối diễu hành khác.
Nguồn: baodatviet.vn